72 năm đã qua, những người lính Điện Biên "56 ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt/Máu trộn bùn non. Gan không núng. Chí không mòn" nay không còn nhiều. Tóc bạc mái đầu, trí nhớ không còn như xưa nhưng chỉ cần nhắc đến những địa danh: Him Lam, Bản Kéo, Độc Lập, đồi A1… trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ai cũng rưng rưng xúc động.
Năm tháng đi qua, những nhân chứng lịch sử từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ không còn nhiều. Nhiều người chúng tôi từng được gặp trong những năm tháng làm nghề nay đã thành người thiên cổ, mang theo ký ức hào hùng về chiến thắng Điện Biên Phủ đi về miền mây trắng. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một số nhân chứng từng góp phần làm nên trang sử vàng của dân tộc.
![]() |
| Lực lượng dân công vận chuyển lương thực lên Điện Biên. Ảnh tư liệu |
"Đánh chắc, tiến chắc" - từ chiến hào đến đồi A1
Ở tuổi 93, sức khỏe đã giảm sút nhưng cựu chiến binh Nguyễn Đăng Dung (trú Tổ dân phố 1 Hoàng Diệu, phường Nha Trang) vẫn nhớ khá rõ những năm tháng tuổi trẻ tình nguyện lên đường chiến đấu "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Quê ở tỉnh Thanh Hóa, vừa tròn 23 tuổi, ông Dung vào quân ngũ và được biên chế vào lực lượng trinh sát của Đại đoàn 316 (nay là Sư đoàn 316) - 1 trong 5 đại đoàn chủ lực tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, đảm nhiệm tiến công tiêu diệt những cứ điểm quan trọng trong hệ thống phòng ngự kiên cố của quân Pháp.
![]() |
| Ông Nguyễn Đăng Dung kể về những ngày tham gia chiến đấu ở Điện Biên. |
Ông Dung kể: "Lính trinh sát phải luôn đi trước để nghiên cứu địa hình, nắm bắt tình hình địch để đảm bảo phương châm “đánh chắc, tiến chắc”. Khi về đưa lên sa bàn để diễn tập tiến đánh, sau đó mới cho đánh thật". Theo hồi ức của ông Dung, việc tấn công địch rất vất vả, bộ đội phải đào đường hầm để thắt chặt vòng vây. Vượt qua nhiều khó khăn, tổn thất, cán bộ, chiến sĩ đại đoàn đã tiêu diệt nhiều vị trí quân địch, trong đó đáng kể nhất là các cứ điểm A1, C1, C2 (theo cách gọi của quân Pháp là cụm cứ điểm Éliane - được ví như bức tường thành bảo vệ phân khu trung tâm và hầm chỉ huy của De Castries), hoàn thành nhiệm vụ Bộ Chỉ huy chiến dịch giao phó.
"Khi đánh đồi A1, Đại đoàn 316 tổ chức đào 3 đường hào hình thành vòng vây từ 3 phía: Đông, đông nam và tây nam… Để tiêu diệt hầm cố thủ của địch ở đồi A1, quân ta đào một đường hầm từ trận địa của ta đến dưới hầm địch, rồi dùng một lượng thuốc nổ đánh sập hầm. Đường hầm đào vào càng sâu, quân ta càng gặp khó khăn về kỹ thuật do thiếu ánh sáng và không khí. Việc giữ cho đúng hướng và độ chênh, rồi chuyển đất ra ngoài… đều là những vấn đề nan giải. Đất đào được phải để vào túi vải dù đem đổ ra xa để khỏi bị lộ", ông Dung nhớ lại.
Máu trộn bùn non
Chiến trường ác liệt, tuy có giao thông hào, hầm trú ẩn nhưng không tránh được thương vong. Nhớ về Điện Biên Phủ không chỉ nhớ những chiến thắng oanh liệt, mà còn nhớ cả những mất mát, hy sinh. Ông Võ Đức Thi (95 tuổi, hiện sống ở phường Bắc Nha Trang) khi ấy là y tá ở trạm quân y tiền phương của Đại đoàn 304 (nay là Sư đoàn 304), nhớ khá rõ về công tác cứu chữa thương binh: "Trạm quân y tiền phương đặt cách mặt trận khoảng 1km. Trang thiết bị y tế chỉ có bộ đồ mổ, thuốc gây tê, gây mê và một số loại thuốc thông dụng. Phòng mổ là một căn hầm chừng 10m², vừa đủ đặt chiếc bàn mổ và có chỗ đứng cho kíp mổ 5 - 6 người".
Bộ đội chiến đấu dưới giao thông hào nên toàn thân bê bết bùn đất, gặp phải ngày mưa như bị nhuộm bùn. Vì thế, mỗi khi thương binh được chuyển về, các y tá phải thay áo quần, làm vệ sinh trước. Những người bị thương nhẹ được đưa về tuyến sau, còn những người bị nặng được giữ lại ở trạm quân y để cấp cứu. Việc cứu chữa cho các chiến sĩ Điện Biên diễn ra ngay trong hầm, dưới ánh sáng của bóng đèn nối với máy phát điện mini xe đạp (Dynamo xe đạp). "Khi có ca mổ, một đồng chí dân công dùng tay liên tục quay chiếc pê-đan xe đạp để bánh xe chuyển động, va chạm với trục quay của Dynamo tạo ra dòng điện thắp sáng bóng đèn. Đồng chí này quay mệt, đồng chí khác lập tức vào thay. Mổ xong, kíp mổ lại chạy ra giao thông hào hít thở một lát cho bớt ngộp… Kíp mổ thường xuyên thức suốt đêm, cứu sống được nhiều chiến sĩ", ông Thi kể.
![]() |
| Ông Võ Đức Thi trò chuyện với thế hệ trẻ về những ký ức ở chiến dịch Điện Biên Phủ. |
72 năm đã qua, nhắc lại nhiệm vụ cứu chữa thương binh, giọng ông Thi vẫn nghẹn lại: "Có một chiến sĩ trẻ bị đứt động mạch khoeo ở chân dẫn tới thiếu máu cấp tính, bàn chân và cổ chân tím ngắt, hoại tử. Thời điểm đó, điều kiện y tế rất thiếu thốn, không thể nối mạch máu như bây giờ, chỉ còn cách gây tê tủy sống rồi cắt chân để cứu tính mạng chiến sĩ. Lúc thực hiện xong, cả kíp mổ đều rưng rưng nước mắt, chiến sĩ đó cũng khóc vì biết sẽ không thể tiếp tục chiến đấu…".
“Máu trộn bùn non. Gan không núng. Chí không mòn” đã giúp quân ta chiếm từng cứ điểm, thắt chặt vòng vây để đi đến trận quyết chiến cuối cùng. Theo các tài liệu lịch sử, sau khi hoàn thành đường hầm xuyên vào lòng đồi A1, quân ta đã đưa bọc phá gài dưới hầm ngầm của quân Pháp. Đúng 20 giờ 30 phút ngày 6-5-1954, quân ta đã cho nổ bộc phá đánh sập công sự kiên cố của địch ở đồi A1, đó cũng là hiệu lệnh tiến công. Ngay lập tức, lực lượng Trung đoàn 174 của Đại đoàn 316 nổ súng đánh vào đồi A1. Quân địch chống cự quyết liệt, các đơn vị của ta vừa chiến đấu vừa chấn chỉnh lực lượng, chia làm nhiều hướng tiếp tục xung phong. Đến 4 giờ 30 sáng 7-5, Trung đoàn 174 đã đập tan hoàn toàn sức kháng cự của địch, làm chủ đồi A1. Chiến thắng ở đồi A1 đã tạo điều kiện thuận lợi để Bộ Chỉ huy chiến dịch tổ chức trận tổng công kích vào Sở Chỉ huy tập đoàn cứ điểm. 17 giờ 30 phút ngày 7-5-1954, tướng De Castries và toàn bộ Bộ Chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị bắt sống. Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng sau 56 ngày đêm.
"Chiều 7-5-1954, tin chiến thắng báo về. Từ dưới hầm của trạm quân y tiền phương, chúng tôi nhảy lên mặt đất hò reo. Ai cũng mừng vui chiến thắng. Sau đó, chúng tôi còn được vào tham quan căn cứ của địch. Lực lượng quân y của ta còn cứu chữa cho các thương binh của quân Pháp…", ông Thi xúc động nhớ lại về thời khắc kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ.
Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra từ ngày 13-3 đến 7-5-1954 với 3 đợt tiến công. Quân ta đã lần lượt đánh chiếm, tiêu diệt các cứ điểm: Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo, sân bay Mường Thanh, đồi C1, đồi D1, đồi A1… 17 giờ 30 phút ngày 7-5-1954, quân ta chiếm sở chỉ huy của địch; tướng De Castries cùng Bộ Tham mưu và toàn bộ binh lính ở khu trung tâm ra hàng. Lá cờ "Quyết chiến, quyết thắng" tung bay trên nóc hầm sở chỉ huy địch. Đến 24 giờ ngày 7-5-1954, toàn bộ quân địch ở Hồng Cúm bị bắt làm tù binh. Sau 56 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên địch, bắn rơi 62 máy bay, thu 64 ô tô và toàn bộ vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng của địch.
XUÂN THÀNH











